Loét áp – tơ (aphthous) miệng

(4.06) - 96 đánh giá
  • Loét áp-tơ là những vết loét ở miệng đau, khu trú, nông, hình tròn hoặc oval với đáy màu xám.
  • Loét áp-tơ là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất trong các loại loét miệng. Áp-tơ tái phát có thể gặp ở những người mắc bệnh Celiac và chứng viêm ruột mạn hoặc người bị suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV).

Nguyên nhân và sinh bệnh học

Sinh bệnh học của áp- tơ cũng chưa rõ ràng. Một giả thuyết cho rằng áp tơ có thể là do rối loạn tại chỗ qua trung gian miễn dịch tế bào, cùng sự giải phóng của các cytokine tiền viêm.

Các yếu tố làm gia tăng sự xuất hiện áp tơ gồm: yếu tố gia đình, chấn thương, hormone, stress. Sự thiếu hụt của vitamin và chất khoáng cũng có liên quan tới áp tơ tái phát, đặc biệt là thiếu hụt vitamin B12. Tuy nhiên, 1 thử nghiệm ngẫu nhiên ở 120 bệnh nhân bị áp tơ, việc cung cấp multivitamin đã không làm giảm được số đợt và thời gian 1 đợt của áp tơ trong năm.

Mặc dầu có 1 vài nghiên cứu quan sát báo cáo có sự gia tăng phát triển áp tơ tạm thời sau khi ngưng hút thuốc lá, nhưng các nghiên cứu khác lại không phát hiện ra mối liên quan này.

Các nguyên nhân khác gây áp tơ bao gồm việc sử dụng các thuốc như: MTX, và tình trạng giảm bạch cầu đa nhân do mọi nguyên nhân.

Đặc điểm lâm sàng của áp tơ

Biểu hiện phổ biến nhất của áp tơ đó là sự hiện diện của các vết loét hình tròn hoặc oval, ranh giới rõ ràng, nhỏ, và đau, đáy xám màu thường tự lành sau 10- 14 ngày mà không để lại sẹo.

Trong tình huống nặng hơn, vết loét có thể rộng (> 5 mm) và có thể kéo dài tới 6 tuần lễ, tuy nhiên tình trạng này thì ít gặp. Đôi khi nhiều vết loét và nhú nhỏ có thể tập trung lại thành từng cụm gọi là Herpetiform(hình) và có thể kéo dài 7- 10 ngày. Sodium lauryl sulfate (đồng phân natri lauryl sulfat, là một hợp chất hữu cơ tổng hợp với công thức CH3 11SO4Na. Nó là một chất hoạt động bề mặt anion được sử dụng trong nhiều sản phẩm làm sạch và vệ sinh. Muối natri là một chất hữu cơ sulfat) chất tẩy trong kem đánh răng có thể kéo dài thời gian làm lành vết loét.

Một vài người có thể bị từ 2-4 đợt trong 1 năm trong khi 1 số người khác có thể bị liên tục. áp tơ gặp ở trẻ em và thiếu niên nhiều hơn là người lớn.

Điều trị áp tơ như thế nào?

Hầu hết điều trị áp tơ là nhằm làm giảm triệu chứng, có thể sử dụng Triamcinolon thoa vết loét, gel fluocinonide và các thuốc giảm đau tại chỗ khác. Có thể dùng 2-4 lần/ ngày cho đến khi vết loét lành. Nếu thoa sớm thì vết loét lành nhanh hơn.

Chấm dung dịch hóa chất chẳng hạn như bạc nitrate hay Debacterol cũng có ích, nó có thể giải quyết tình trạng đau nhanh hơn mặc dù nó không giúp làm lành vết loét nhanh hơn. Nên gây tê tại chỗ bằng lidocain trước khi bôi hóa chất và bệnh nhân nên súc miệng vài phút sau khi làm xong.

Chích Glucocorticoid vào vết loét hoặc uống được chỉ định cho các tổn thương tái phát hoặc bệnh nặng. Colchicine, dapsone, pentoxifylline, interferon alfa, và levamisole cũng có thể có giá trị điều trị trong các trường hợp nặng.

Thalidomide đã được nghiên cứu ở bệnh nhân bị áp tơ nặng. Trong 1 thử nghiệm ngẫu nhiên ở những bệnh nhân HIV bị áp tơ, điều trị với thalidomide 200 mg/ ngày trong 4 tuàn. kết quả cho thấy lành vết loét ở 16/29 bệnh nhân (55%) trong nhóm có dùng thuốc. trong khi ở nhóm dùng giả dược chỉ có 2/28 bệnh nhân là lành chiếm 7%. Một nghiên cứu hồi cứu ở 92 bệnh nhân không có HIV bị áp tơ (trong đó có 16 bệnh nhân bệnh nhân bị hội chứng behcet’s) cũng báo cáo là thuốc này có hiệu quả ở liều thấp, với liều khởi đầu là 50 m / ngày thalidomide làm giảm hoàn toàn ở 85 % bệnh nhân trong vòng 14 ngày. Tái phát là tình trạng thường gặp của liệu pháp này, duy trì liều thấp làm giảm được tái phát. Thalidomide có thể gây ra quái thai nên không dùng được cho phụ nữ có thai.

Tài liệu tham khảo

https://www.facebook.com/diendannhikhoa/posts/754620311402158

Biên dịch - Hiệu đính

Quản lý sưu tầm
Đánh giá:

Bài viết liên quan

Cha mẹ cần lưu ý gì khi cho trẻ đi chích ngừa

(60)
Chích ngừa hẳn là một sự kiện tương đối trọng đại không những của bản thân bé mà của cả cha mẹ, bao nhiêu lo âu, hồi hộp trước tiêm. Không biết ... [xem thêm]

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em

(88)
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp(ARI) là gì? ARI là thuật ngữ để chỉ tình trạng nhiễm trùng chung của toàn bộ đường hô hấp từ mũi xuống đến phổi gây ra bởi ... [xem thêm]

Dậy thì sớm – Những điều cần biết

(11)
Chúng ta biết rằng 2 năm trước tuổi dậy thì chiều cao tăng nhanh, một khi đã dậy thì tối đa cũng chỉ cao thêm được 15 cm. Vì vậy dậy thì sớm là nỗi lo ... [xem thêm]

Kháng sinh không phải thuốc độc

(34)
Nhiều mẹ không muốn dùng kháng sinh cho con? Mấy ngày hôm trước tôi có khám cho 1 trẻ bị viêm tai giữa cấp 2 bên, màng nhĩ căng phồng ứ mủ bên trong, bé đau ... [xem thêm]

Khi nào mới gọi là chậm mọc răng?

(97)
Khi nào mới gọi là chậm mọc răng? Mỗi răng có một giới hạn thời gian nhất định để mọc (giới hạn trên và dưới). Nếu quá 6 tháng so với giới hạn ... [xem thêm]

Cảm lạnh có thể dẫn đến biến chứng gì?

(52)
Các biến chứng khi trẻ bị cảm Mặc dù cảm lạnh tương đối lành tính, trẻ có thể tự mình vượt qua mà không cần bất cứ thuốc thang gì. Trẻ nhỏ thì ... [xem thêm]

Làm sao nuôi con khi không có sữa mẹ?

(57)
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khỏe của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Sữa bò là thức ăn tốt nhất cho bò sơ sinh và bò nhỏ! Trải qua kỉ nguyên sùng bái ... [xem thêm]

Hướng dẫn sử dụng thuốc điều trị ho ở trẻ em

(53)
Ho là phản xạ có lợi cho cơ thể Bảo vệ khi có sự tấn công do hít các phân tử từ bên ngoài Giới hạn việc xâm nhập đột ngột của các dị vật Tham gia ... [xem thêm]

DANH SÁCH PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN