Người lớn cần tiêm vaccine Tdap để phòng bệnh ho gà

(4.21) - 92 đánh giá

Vaccine Tdap là một mũi tiêm phối hợp để bảo vệ người lớn chống lại 3 bệnh ho gà, bạch hầu, uốn ván.

Ngày nay, bệnh uốn ván và bạch hầu rất hiếm khi xuất hiện như ho gà vẫn còn là căn bệnh phổ biến.

Tìm hiểu chung về vaccine Tdap

Từ năm 1960, vaccine ho gà dành cho trẻ nhỏ dưới 6 tuổi đã xuất hiện nhưng khả năng chống lại căn bệnh này cũng mất dần theo thời gian. Đó là vaccine DTaP. Mỗi trẻ sơ sinh và trẻ em phải được tiêm đủ 5 liều, bắt đầu từ 2 tháng tuổi để cơ thể có đủ khả năng chống lại bệnh ho gà. Giai đoạn này vẫn chưa có vaccine ho gà cho trẻ từ 6 tuổi trở lên.

Đến năm 2005, vaccine Tdap ra đời. Nó có tác dụng phòng bệnh cho người lớn và trẻ em trên 6 tuổi.

Những ai nên tiêm vaccine Tdap?

Các tổ chức tiêm phòng khuyến cáo người trưởng thành nên tiêm hoặc tiêm nhắc lại một liều Tdap nếu:

  • Chưa bao giờ được tiêm vaccine phòng bệnh ho gà
  • Không nhớ rõ thời gian của mũi tiêm lần trước

Bạn nên tiêm một mũi Tdap tăng cường nếu bạn thường xuyên tiếp xúc với trẻ sơ sinh dưới 12 tháng tuổi. Bác sĩ cho rằng, thời điểm tiêm ngừa tốt nhất là 2 tuần trước khi bế em bé mới sinh. Điều đó có nghĩa là mọi thành viên trong gia đình sắp chào đón em bé cần được tiêm vaccine Tdap đầy đủ để phòng ngừa bệnh và ngăn chặn sự lây lan cho em bé.

Phụ nữ mang thai cũng cần được tiêm tăng cường vaccine Tdap trong mỗi thai kỳ. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, thai phụ được tiêm vaccine Tdap trong những tháng cuối của thai kỳ có ít nguy cơ mắc bệnh và lây bệnh ho gà cho trẻ sơ sinh.

Đồng thời, đứa trẻ được sinh ra cũng đã có được một lượng kháng thể nhất định để chống chọi với bệnh ho gà. Điều này được lý giải là do quá trình chuyển giao lượng chất rất lớn từ cơ thể mẹ qua nhau thai trong những tháng cuối thai kỳ. Kháng thể từ vaccine ho gà cũng được truyền cho thai nhi qua con đường này để em bé được sinh ra có khả năng miễn dịch với bệnh.

Bạn không nên tiêm vaccine Tdap nếu trước đó bạn đã có phản ứng nghiêm trọng với bất kỳ loại vaccine nào có chứa kháng thể uốn ván, bạch hầu hoặc ho gà. Ngoài ra, người bị hôn mê hoặc co giật trong vòng 7 ngày sau khi được tiệp vaccine DTaP thời thơ ấu cũng không nên tiêm vaccine Tdap khi trưởng thành.

Vì thế, bạn cần phải liệt kê hết tất cả những điều đáng lưu ý về thể trạng của bạn hoặc những lần có phản ứng nghiêm trọng sau khi tiêm bất kỳ một loại vaccine nào đó. Những thông tin này sẽ giúp bác sĩ đưa ra tiên lượng chính xác để bảo vệ sự an toàn cho bạn sau mỗi lần tiêm vaccine.

Những phản ứng phụ có thể xảy ra sau khi tiêm vaccine Tdap

Ngoài tác dụng phòng chống bệnh tật, mỗi loại vaccine đều chứa những rủi ro hoặc nguy cơ xảy ra phản ứng phụ nhất định trên cơ thể người được tiêm. Với Tdap, các tác dụng phụ thường xảy ra ở thể nhẹ và tự biến mất sau khi tiêm khoảng 1-3 ngày.

Những phản ứng phụ có thể xuất hiện sau khi tiêm vaccine Tdap bao gồm:

  • Đau nhẹ, đỏ hoặc sưng tại chỗ tiêm
  • Người mệt mỏi, đau nhức
  • Đau đầu
  • Buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy
  • Sốt
  • Sưng toàn bộ cánh tay ở phía tay vừa được tiêm vaccine.

Trong những trường hợp hiếm gặp, vaccine Tdap có thể gây ra những phản ứng phụ nghiêm trọng như:

  • Sưng nặng, đau hoặc chảy máu ở nơi tiêm thuốc
  • Sốt cao
  • Nổi mề đay, sưng mặt hoăc cổ họng
  • Khó thở
  • Tim đập nhanh
  • Chóng mặt.

Tương tác thuốc

Tương tác thuốc là tình trạng có khả năng làm thay đổi tính năng của vaccine hoặc gia tăng nguy cơ xảy ra phản ứng phụ. Nếu bạn đang sử dụng các loại thuốc chữa trị một bệnh lý khác, hãy liệt kê cho bác sĩ tiêm phòng để bác sĩ tiên lượng khả năng tương tác và có lời khuyên phù hợp dành cho bạn.

Ngoài ra, thực phẩm chức năng, rượu, bia hoặc một số loại đồ ăn nhạy cảm khác như thực phẩm lên men, mắm sống… cũng có thể gây ra tình trạng tương tác thuốc sau khi tiêm vaccine Tdap. Tốt nhất là bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ về khoảng thời gian lý tưởng có thể duy trì chế độ ăn uống thường ngày sau khi tiêm để đảm bảo vaccine phát huy đúng công dụng của nó.

Cũng giống như các loại vaccine khác, Tdap cần có quy trình bảo quản nghiêm ngặt để không làm biến đổi chất lượng của vaccine. Tất cả các mũi tiêm vaccine phòng bệnh nên được thực hiện dưới sự giám sát của bác sĩ hoặc người có chuyên môn y tế. Bạn không nên tự ý tiêm vaccine cho bản thân và các thành viên trong gia đình để phòng ngừa các yếu tố rủi ro xảy ra do thiếu chuyên môn y tế.

Đánh giá:

Bài viết liên quan

Vì sao mẹ bầu nhóm máu O lại có thể gây nguy hiểm cho con?

(32)
Bạn có biết mình mang nhóm máu gì không? Nếu là mẹ bầu nhóm máu O, bạn cần thận trọng khi con chào đời vì có thể sau khi sinh con bạn bị vàng da. Tại sao ... [xem thêm]

Xua tan nỗi lo tăng huyết áp với thuốc chẹn kênh canxi

(56)
Thuốc chẹn kênh canxi là một trong những thuốc phổ biến điều trị tăng huyết áp. Cơ chế hoạt động của loại thuốc này là cản bớt lượng canxi đi vào ... [xem thêm]

10 điều cần biết về bảo hiểm nhân thọ bạn nên tìm hiểu

(30)
Hiện nay, nhiều người vì vẫn chưa nắm rõ các điều cần biết về bảo hiểm nhân thọ nên thờ ơ với loại hình này và bỏ qua 1 biện pháp bảo vệ cho tài ... [xem thêm]

Những điều cần biết về xét nghiệm đo mật độ xương

(54)
Có thể bạn đã từng nghe nói về xét nghiệm đo mật độ, khối lượng xương hoặc đôi khi là tỷ trọng khoáng xương BMD. Tất cả các loại xét nghiệm này ... [xem thêm]

Đạp đinh bị nhức, phải làm sao để vết thương nhanh lành?

(91)
Vết thương từ việc đạp đinh có thể bị nhiễm trùng hoặc những biến chứng khác nếu không được xử lý đúng cách. Nếu đạp định bị nhức, bạn phải ... [xem thêm]

12 cách chữa bệnh trĩ tại nhà dành cho chị em

(31)
Khi bị trĩ, bạn sẽ cảm thấy khó chịu vì sự sưng đau ở vùng hậu môn. Nếu chỉ bị trĩ ở mức độ nhẹ, bạn có thể thử các cách chữa bệnh trĩ tại ... [xem thêm]

Mẹ cho con bú có nên ăn cam hay uống nước cam?

(13)
Trên thực tế, cam và các loại trái cây cùng họ là nguồn dinh dưỡng tốt cho sức khỏe. Tuy vậy, vẫn có nhiều thắc mắc không biết liệu mẹ sau sinh có nên ... [xem thêm]

Giải đáp thắc mắc: Muỗi đốt bao lâu thì bị sốt xuất huyết?

(40)
Sốt xuất huyết là một căn bệnh do virus gây ra ở người. Dịch sốt xuất huyết thường xảy ra theo chu kỳ từ 3–5 năm một lần và nếu không được điều ... [xem thêm]

DANH SÁCH PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN