11 điều bạn nên biết về bệnh máu khó đông

(3.98) - 91 đánh giá

Bệnh máu khó đông không chỉ khiến bạn khó cầm máu khi bị thương mà còn có thể gây ảnh hưởng tới các khớp và đôi khi gây nguy hiểm tới tính mạng.

Tuy vậy, bạn hoàn toàn có thể sống chung với bệnh này một cách khỏe mạnh bình thường nếu biết một số cách điều trị hay giảm nhẹ triệu chứng bệnh.

1. Bệnh máu khó đông là rối loạn di truyền

Bệnh máu khó đông (Hemophilia) còn gọi là bệnh loãng máu (máu loãng), là một rối loạn chảy máu di truyền. Người bệnh bị thiếu một số protein giúp đông máu gọi là yếu tố đông máu. Có 13 loại yếu tố đông máu cùng phối hợp với tiểu cầu, các tế bào máu nhỏ hình thành trong tủy xương để giúp máu dễ đông. Người mắc bệnh này đi truyền một khiếm khuyết trong các gen quy định các yếu tố đông máu VIII, IX hoặc XI. Những gen này nằm trên nhiễm sắc thể X nên gen gây bệnh là một gen lặn liên quan đến nhiễm sắc thể X.

Gen gây bệnh loãng máu nằm trên nhiễm sắc thể X nên bố không thể truyền bệnh này cho con trai của mình vì con trai chỉ nhận nhiễm sắc thể Y từ bố. Điều này cũng có nghĩa là con trai chỉ có thể nhận gen gây bệnh loãng máu từ mẹ.

Phụ nữ tuy không mắc bệnh nhưng có một nhiễm sắc thể X mang gen gây bệnh máu khó đông sẽ có 50% cơ hội truyền gen này cho con dù đó là con trai hay con gái. Những người phụ nữ mang gen gây bệnh thường có nguy cơ chảy máu cao hơn. Nam giới có nhiễm sắc thể X mang gen gây bệnh loãng máu cũng có thể truyền gen này cho con gái của mình.

Người mắc bệnh này sẽ khó cầm máu hơn bình thường và điều này có thể dẫn đến chảy máu quá mức. Theo Liên đoàn Bệnh máu khó đông thế giới (The World Federation of Hemophilia – WFH), tỷ lệ mắc bệnh này từ khi mới sinh là khoảng 1/10.000.

2. Các dạng của bệnh máu khó đông

Bệnh có ba dạng A, B, C sau đây:

  • Dạng A (Hemophilia A): Đây là dạng phổ biến nhất gây ra bởi sự thiếu hụt yếu tố đông máu VIII. Có khoảng 8 trong số 10 người bị bệnh máu khó đông thuộc loại A.
  • Dạng B (Hemophilia B): Dạng này do thiếu yếu tố đông máu IX gây ra.
  • Dạng C (Hemophilia C): Đây là một dạng bệnh nhẹ do thiếu yếu tố đông máu XI. Những người mắc dạng này thường không bị chảy máu tự phát mà chỉ xuất huyết sau chấn thương hoặc phẫu thuật.

3. Các triệu chứng bệnh máu loãng

Mức độ triệu chứng của người bệnh phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của sự thiếu hụt yếu tố đông máu. Những người bị thiếu hụt nhẹ có thể bị chảy máu khi chấn thương. Những người bị thiếu hụt nghiêm trọng có thể chảy máu không vì lý do gì hay còn gọi là chảy máu tự phát. Ở trẻ bị bệnh máu khó đông, các triệu chứng này có thể xảy ra vào khoảng 2 tuổi.

Bạn hãy đi khám ngay nếu có các dấu hiệu của chảy máu tự phát sau đây:

  • Cứng khớp
  • Đau ở khớp
  • Vết thâm sâu
  • Phân có máu
  • Có lẫn máu trong nước tiểu
  • Kích ứng (ở trẻ em)
  • Chảy máu quá nhiều
  • Chảy máu nướu răng
  • Chảy máu cam thường xuyên
  • Vết bầm tím lớn, không rõ nguyên nhân

Để giảm nhẹ hay ngăn ngừa các triệu chứng trên, bạn nên lưu ý một số điều sau đây:

  • Học cách sơ cứu khi chảy máu
  • Vận động nhẹ nhàng, an toàn mỗi ngày
  • Tìm hiểu các thông tin về bệnh để chủ động xử lý các vấn đề
  • Luôn thông báo cho bác sĩ biết tình trạng bệnh của mình khi đi khám

4. Những trường hợp bạn cần cấp cứu ngay

Bạn hãy cấp cứu ngay lập tức nếu có các triệu chứng sau:

  • Đau cổ
  • Nôn liên tục
  • Đau đầu dữ dội
  • Nhìn mờ hoặc song thị
  • Chảy máu liên tục từ một chấn thương

Các triệu chứng trên đặc biệt nghiêm trọng nếu bạn đang mang thai, vì vậy hãy theo dõi sức khỏe cẩn thận trong thời kỳ này.

5. Nguyên nhân gây bệnh máu loãng

Khi bạn chảy máu, các tiểu cầu sẽ tụ lại ở vết thương để làm đông máu, từ đó giúp bạn cầm máu. Sau đó, các yếu tố đông máu sẽ hỗ trợ tiểu cầu để cầm máu vết thương triệt để hơn. Việc thiếu hụt hay không có các yếu tố đông máu này sẽ làm bạn không thể cầm máu.

Trong trường hợp cực kỳ hiếm gặp, bệnh máu khó đông có thể xuất hiện sau khi sinh. Đây là trường hợp những người có hệ miễn dịch tạo thành kháng thể tấn công các yếu tố đông máu VIII hoặc IX.

Bệnh Hemophilia A và B là do con cái nhận được các nhiễm sắc thể mang gen gây bệnh từ bố mẹ. Vậy nên bố mẹ có nhiễm sắc thể X mang gen gây loãng máu sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh của con. Bệnh dạng A và B phổ biến ở nam hơn so với nữ.

Bệnh Hemophilia C là do khiếm khuyết trong quá trình di truyền chứ không liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính nên ảnh hưởng đến nam và nữ ngang nhau. Theo Trung tâm Indiana Hemophilia và Thrombosis, Hoa Kỳ, dạng bệnh này thường ảnh hưởng đến người gốc Ashkenazi Do Thái nhiều nhất nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến các nhóm sắc tộc khác.

6. Cách chẩn đoán bệnh máu khó đông

Bệnh được chẩn đoán thông qua xét nghiệm máu, đo lượng yếu tố đông máu có trong đó. Mẫu máu sau đó được phân loại để xác định mức độ nghiêm trọng của sự thiếu hụt yếu tố đông máu:

  • Mức độ nhẹ: Yếu tố đông máu trong huyết tương từ 5-40%.
  • Mức độ trung bình: Yếu tố đông máu trong huyết tương từ 1-5%.
  • Mức độ nặng: Yếu tố đông máu trong huyết tương dưới 1%.

7. Các biến chứng của bệnh máu khó đông

Các biến chứng của bệnh máu khó đông bao gồm:

  • Chảy máu trong
  • Tổn thương khớp do chảy máu thường xuyên
  • Các triệu chứng thần kinh do chảy máu trong não
  • Nguy cơ bị các nhiễm trùng như viêm gan cao khi truyền máu

8. Cách điều trị bệnh máu khó đông

  • Hemophilia A: Điều trị bằng hormone desmopressin tiêm vào tĩnh mạch để kích thích các yếu tố chịu trách nhiệm cho quá trình đông máu.
  • Hemophilia B: Điều trị bằng cách truyền các yếu tố đông máu vào máu bệnh nhân. Yếu tố đông máu này có thể được hiến tặng từ một người khác hoặc nhân tạo.
  • Hemophilia C: Điều trị bằng cách truyền huyết tương. Việc truyền dịch có thể ngăn chặn quá trình chảy máu mức nặng.

Bạn cũng có thể được áp dụng vật lý trị liệu để phục hồi chức năng nếu khớp bị tổn thương do chứng chảy máu.

9. Phòng ngừa nguy cơ bệnh máu khó đông

Bệnh máu khó đông được truyền từ bố mẹ sang con và không có cách nào để biết trước con bạn có mắc bệnh máu khó đông hay không. Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm có thể kiểm soát một phần nguy cơ. Ở những ca thụ tinh ống nghiệm, trứng sau khi thụ tinh có thể được kiểm tra tình xem có mang gen gây bệnh máu loãng không.

Khám sức khỏe trước khi quyết định mang thai cũng có thể giúp bạn nắm được nguy cơ sinh con bị bệnh máu khó đông.

Bệnh máu khó đông khó ngăn ngừa do đây là một bệnh di truyền nhưng bạn vẫn có thể khắc phục và giảm nhẹ các triệu chứng bệnh. Hãy duy trì lối sống lành mạnh kết hợp với kiểm soát các yếu tố nguy cơ, bạn sẽ không còn bị ám ảnh về căn bệnh nữa.

Đánh giá:

Bài viết liên quan

Chẩn bệnh qua dịch tiết âm đạo

(95)
Đối với phụ nữ, bất kì một sự bất ổn nào ở vùng kín cũng khiến chị em lâm vào cảnh đứng ngồi không yên. Đó là khi “cô bé” đang cố gắng lên ... [xem thêm]

Uống rượu bia bao nhiêu là tốt?

(80)
Một số nghiên cứu đã chứng minh khi bạn uống rượu bia với một lượng vừa phải sẽ giúp bạn giữ tâm trí tỉnh táo hơn khi về già và giảm nguy cơ đái ... [xem thêm]

Chấn thương thể thao: Hiểu rõ để phòng tránh

(51)
Chấn thương thể thao là một tình trạng rất phổ biến, thường xảy ra ở trẻ em khi vận động hoặc chơi thể thao. Việc hiểu rõ và xử lý kịp thời các ... [xem thêm]

Giúp xương chắc khỏe nhờ những thực phẩm giàu canxi nào?

(62)
Canxi là chất dinh dưỡng vô cùng cần thiết để xương phát triển khỏe mạnh. Vậy bạn có biết những loại thực phẩm giàu canxi nào không? Các nghiên cứu đã ... [xem thêm]

Hở van động mạch phổi và những điều bạn cần biết

(99)
Hở van động mạch phổi là tình trạng van này không đóng chặt gây rò rỉ, khiến cho lưu lượng máu từ tim đến phổi không được kiểm soát như bình thường. ... [xem thêm]

6 sai lầm về mụn

(43)
Mụn trứng cá là những nốt sưng tấy nhỏ nổi lên trên da do những thay đổi diễn ra trong cơ thể khi bắt đầu bước vào tuổi dậy thì.Lần đầu tiên nhận ra ... [xem thêm]

Nhận biết các triệu chứng bệnh herpes sinh dục

(15)
Bệnh herpes sinh dục là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất do virus herpes simplex (HSV) gây ra. Phần lớn người bệnh không biết ... [xem thêm]

Bí quyết cho con ăn dặm an toàn và bổ dưỡng

(37)
Bạn có thể bắt đầu cho con ăn dặm bằng cách cho bé ăn trái cây hoặc rau quả. Cho tới khi bé được sáu tuổi, mục tiêu chính lúc này là để bé ăn càng ... [xem thêm]

DANH SÁCH PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN